Biến chứng của u nang buồng trứng có nguy hiểm không?

Biến chứng của u nang buồng trứng có nguy hiểm không?

U nang buồng trứng là đa số là u lành tính, chỉ một tỷ lệ nhỏ có biến chứng ung thư hóa và các biến chứng khác gây nguy hiểm tính mạng và ảnh hưởng đến khả năng thực hiện thiên chức làm mẹ. Vì vậy, khi phát hiện u nang buồng trứng cần được chẩn đoán và điều trị kịp thời.

Biến chứng của u nang buồng trứng có nguy hiểm không

  1. U nang buồng trứng là gì?

U nang buồng trứng là những nang hình thành ở buồng trứng, có vỏ bọc ngoài, bên trong chứa chất dịch, hình thành trong giai đoạn rụng trứng. Bệnh có thể xảy ra ở nữ giới thuộc mọi độ tuổi, nhưng cao nhất là ở độ tuổi sinh sản. Khoảng 8% phụ nữ tiền mãn kinh có phát triển u nang lớn cần điều trị. U nang buồng trứng ít xảy ra ở phụ nữ trong và sau giai đoạn mãn kinh có tần suất tiến triển thành ung thư buồng trứng cao hơn các giai đoạn khác.

Hầu hết u nang buồng trứng là vô hại, không có các triệu chứng cụ thể. Do đó, đa số nhiều người không biết mình có u nang – trừ khi u nang phát triển lớn hoặc có nhiều u nang. Tuy nhiên, u nang buồng trứng là bệnh thường dễ xảy ra các biến chứng, trong một số trường hợp đặc biệt (như bị vỡ), có thể gây ra các biến chứng nghiêm trọng (xuất huyết trong ổ bụng, viêm phúc mạc .. ). Vì vậy, người phụ nữ cần đi khám sức khỏe định kỳ để kịp thời phát hiện và được tư vấn theo dõi, điều trị tốt nhất..

  1. Biến chứng xảy ra khi u nang buồng trứng không được điều trị kịp thời

Xoắn nang: Thường xảy ra với khối u có kích thước nhỏ, cuống dài, không dính. Biến chứng này cũng có thể xảy ra khi đang mang thai (nhất là trong những tháng đầu thai nghén), hoặc sau khi đẻ. Người bệnh biểu hiện bằng cơn đau bụng đột ngột, dữ dội, vã mồ hôi, choáng, nôn. Trong trường hợp này, bệnh nhân cần được đưa đến bệnh viện mổ cấp cứu kịp thời. Bác sĩ sẽ thực hiện tháo xoắn, nếu buồng trứng hồng trở lại thì bóc u bảo tồn buồng trứng.

Vỡ nang: Vỡ nang là biến chứng ít gặp, thường xảy ra với trường hợp u nang nước do có vỏ mỏng, sẽ gây đau và chảy máu dữ dội. Trong trường hợp u nang không được phát hiện sớm, nó có thể phát triển to và vỡ hoặc vỡ sau chấn thương mạnh vùng bụng dưới. U nang vỡ không chỉ gây đau dữ dội, nó còn có thể gây nên các biến chứng đe dọa tính mạng như vỡ u nang buồng trứng xuất huyết và nhiễm trùng. Bệnh nhân thường có biểu hiện đau dữ dội xung quanh vùng bụng, buồn nôn, hoặc nôn, đau nhiều hơn khi chạm vào vú.

Nhiễm khuẩn nang: Nhiễm khuẩn xảy ra khi có xoắn nang. Biểu hiện bằng việc nang to lên, dính vào các tạng xung quanh. Cần được khám và điều trị sớm.

Chèn ép tiểu khung: Biến chứng thường xuất hiện muộn, khi khối u đã lớn, có khả năng đè vào trực tràng, bàng quang. U chèn ép bàng quang gây đái rắt, chèn ép trực tràng gây táo bón. Nang to, tiến triển trong nhiều năm chiếm hết ổ bụng, đôi khi chèn ép niệu quản gây ứ nước bể thận, chèn ép tĩnh mạch chủ dưới gây phù, tuần hoàn bàng hệ, cổ chướng.

Chảy máu trong nang: Đây là biến chứng phổ biến nhất. Chảy máu xảy ra khi một mạch máu trong nang bị vỡ hoặc bị xoắn nang. Máu từ mạch máu tràn ra nang và làm nang bắt đầu to lên. Nang buồng trứng là một túi có thành mỏng bên trong chứa đầy dịch nên dễ gây ra xuất huyết. Không phải trường hợp nào xuất huyết xảy ra cũng cần được phẫu thuật. Trong một số trường hợp, u nang sẽ phát triển trong một khoảng thời gian, sau đó bắt đầu co lại và cuối cùng tự biến mất. Tuy nhiên, theo dõi u nang buồng trứng xuất huyết là rất cần thiết để đảm bảo rằng nó tự giới hạn và không gây nguy hiểm cho buồng trứng.

Các biến chứng khác: Vô sinh, đẻ non, sẩy thai, khó đẻ và có nguy cơ chuyển thành ung thư.

  1. Biến chứng khi đang mang thai

U nang buồng trứng cũng thường xảy ra khi mang thai, đa số các trường hợp đều lành tính. U nang buồng trứng tiếp tục phát triển có thể vỡ, hay xoắn và gây ra vấn đề trong khi sinh. Dạng nang hay gặp là nang hoàng thể hay u nang bì, ít khi gặp nang ác tính. Trong thời gian thai nhi được trên 13 tuần tuổi, rau thai đã tiết đủ hocmon để nuôi dưỡng thai, nếu là nang hoàng thể thì thường giảm kích thước hoặc không phát triển nữa, có thể không cần phải mổ và xét nghiệm giải phẫu bệnh lý. Trong trường hợp u phát triển to, trong 3 tháng giữa thai kỳ, thì nên mổ ngay, trừ khi chỉ phát hiện được trong thời kỳ cuối thai nghén.

Một kế hoạch hành động, theo dõi – điều trị thích hợp cần được thực hiện để bảo vệ sức khỏe bản thân và thai nhi.